Hành vi vu khống là hành vi bịa đặt hoặc lan truyền những thông tin sai sự thật nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Trong thời đại mạng xã hội phát triển mạnh mẽ, hành vi vu khống có thể xảy ra dưới nhiều hình thức như: đăng bài “bóc phốt”, chia sẻ thông tin chưa được kiểm chứng, dựng chuyện nhằm hạ uy tín người khác…
– Tội vu khống được xác định dựa trên ba yếu tố cốt lõi:
+ Có thông tin không đúng sự thật;
+ Người thực hiện biết rõ thông tin là sai sự thật;
+ Hành vi được thực hiện nhằm xâm phạm danh dự, nhân phẩm hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
Việc nhận diện đầy đủ các yếu tố nêu trên là cơ sở quan trọng để phân biệt giữa quyền tố cáo hợp pháp, hành vi vi phạm hành chính và hành vi cấu thành tội phạm theo Điều 156 Bộ luật Hình sự.
– Cấu thành tội vu khống theo Điều 156 Bộ luật Hình sự
+ Khách thể của tội vu khống
Khách thể bị xâm phạm là quan hệ xã hội bảo vệ danh dự, nhân phẩm và uy tín của cá nhân. Đây là quyền nhân thân được Hiến pháp và pháp luật hình sự bảo hộ.
Danh dự là sự đánh giá của xã hội đối với một người; nhân phẩm gắn với giá trị làm người; uy tín phản ánh sự tin cậy trong quan hệ xã hội và nghề nghiệp. Khi hành vi bịa đặt làm giảm sút sự đánh giá này, khách thể đã bị xâm phạm.
Cần lưu ý: không phải mọi lời nói gây khó chịu đều cấu thành tội phạm. Pháp luật hình sự chỉ can thiệp khi hành vi đạt mức độ nguy hiểm đáng kể cho xã hội và xâm phạm nghiêm trọng đến quyền nhân thân.
+ Mặt khách quan của tội vu khống
Mặt khách quan thể hiện qua một trong các hành vi:
Bịa đặt thông tin sai sự thật nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại;
Loan truyền điều biết rõ là sai;
Bịa đặt việc người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.
Yếu tố cốt lõi là tính sai sự thật của thông tin và hành vi phát tán ra bên ngoài. Nếu thông tin không được truyền đạt cho người thứ ba, thường chưa đủ yếu tố cấu thành. Trong bối cảnh công nghệ số, hành vi có thể diễn ra qua mạng xã hội, nền tảng trực tuyến, email, đơn thư, hoặc phương tiện truyền thông. Phạm vi lan truyền càng rộng thì mức độ nguy hiểm cho xã hội càng lớn, có thể được xem xét là tình tiết định khung tăng nặng.
Tuy nhiên, cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh được:
Một là, nội dung là sai sự thật;
Hai là, người thực hiện biết rõ tính sai sự thật;
Ba là, hành vi có khả năng gây thiệt hại đến danh dự, quyền lợi hợp pháp của người bị hại.
Thiếu một trong các yếu tố trên, việc truy cứu trách nhiệm hình sự có thể không được đặt ra.
+ Mặt chủ quan – yếu tố lỗi cố ý
Tội vu khống chỉ được thực hiện với lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức rõ thông tin là sai nhưng vẫn thực hiện nhằm mục đích xúc phạm hoặc gây thiệt hại.
Điểm mấu chốt nằm ở yếu tố “biết rõ”. Nếu người đưa tin tin rằng thông tin là đúng, có căn cứ nhất định, nhưng sau đó được xác định là không chính xác, thì cần đánh giá kỹ về lỗi. Trong nhiều trường hợp, hành vi có thể dừng lại ở vi phạm dân sự hoặc hành chính.
Động cơ không phải dấu hiệu bắt buộc, nhưng thường xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân, cạnh tranh kinh doanh, tranh chấp tài sản hoặc mục đích gây áp lực trong quan hệ xã hội.
+ Chủ thể của tội vu khống
Chủ thể là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự.
Trong một số trường hợp, nếu người thực hiện lợi dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc thực hiện hành vi có tổ chức, thì đây có thể là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định chung của Bộ luật Hình sự.
Đối với hành vi thực hiện trên không gian mạng, việc xác định chủ thể có thể thông qua dữ liệu điện tử, địa chỉ IP, thiết bị truy cập và các biện pháp nghiệp vụ khác theo quy định của pháp luật tố tụng.
– Điều 156 BLHS năm 2015 quy định 3 khung hình phạt:
+ Khung hình phạt cơ bản:
Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng, hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm, hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
+ Khung hình phạt tăng nặng (phạt tù từ 01 năm đến 03 năm) áp dụng cho các trường hợp:
Phạm tội có tổ chức;
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
Đối với 02 người trở lên;
Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
+ Khung hình phạt đặc biệt nghiêm trọng (phạt tù từ 03 năm đến 07 năm) áp dụng khi:
Gây hậu quả nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của nạn nhân;
Làm nạn nhân tự sát;
Ngoài hình phạt chính nêu trên, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Điều 156 Tội vu khống
- Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;
b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Đối với 02 người trở lên;
d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;
đ) Đối với người đang thi hành công vụ;
e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%
h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Vì động cơ đê hèn;
b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên
c) Làm nạn nhân tự sát
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
NT





